Người đại diện hợp pháp của người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự là ai?
– Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự như sau:
“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự”.

– Khoản 3 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng như sau:
“1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.
Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn”.
Người vợ phải đáp ứng những điều kiện gì để trở thành người đại diện hợp pháp cho người vợ bị mất năng lực hành vi dân sự?
– Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015 quy định điều kiện của cá nhân làm người giám hộ như sau:
“Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên”.
– Theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giám sát việc giám hộ như sau:
“1. Người thân thích của người được giám hộ thỏa thuận cử người giám sát việc giám hộ trong số những người thân thích hoặc chọn cá nhân, pháp nhân khác làm người giám sát việc giám hộ. Việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ phải được sự đồng ý của người đó. Trường hợp giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ thì người giám sát phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người được giám hộ.
2. Trường hợp không có người thân thích của người được giám hộ hoặc những người thân thích không cử, chọn được người giám sát việc giám hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người giám hộ cử cá nhân hoặc pháp nhân giám sát việc giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ thì Tòa án quyết định.
3. Người giám sát việc giám hộ phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu là cá nhân, có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám sát nếu là pháp nhân; có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát.
4. Người giám sát việc giám hộ có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Theo dõi, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ;
b) Xem xét, có ý kiến kịp thời bằng văn bản về việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự quy định tại Điều 59 của Bộ luật này;
c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giám hộ xem xét thay đổi hoặc chấm dứt việc giám hộ, giám sát việc giám hộ”.
Chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì vợ có thể sang tên quyền sử dụng đất là tài sản chung của hai vợ chồng sang cho người vợ hay không?
– Theo khoản 1 Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quản lý tài sản của người được giám hộ như sau:
“1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Như vậy, khi người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì người vợ sẽ là người đại diện hợp pháp của người chồng nếu người vợ đáp ứng các điều kiện làm người giám hộ. Tòa án chỉ định người đại diện cho người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự nếu người vợ có yêu cầu ly hôn. Người vợ phải đáp ứng những điều kiện quy định tại Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015 để trở thành người đại diện hợp pháp cho người vợ bị mất năng lực hành vi dân sự.
Trường hợp người vợ đủ điều kiện làm người giám hộ của người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì người vợ phải có trách nhiệm quản lý tài sản của chồng như của mình. Bên cạnh đó, chỉ được thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản vì lợi ích của người chồng.
Câu hỏi: Vậy, người vợ có quyền thay chồng thực hiện sang tên quyền sử dụng đất là tài sản chung của hai vợ chồng được không?
Đối với mục đích của người vợ khi đại diện cho chồng thực hiện sang tên quyền sử dụng đất là tài sản chung của hai vợ chồng cho bản thân thì được xem là vi phạm lợi ích của người chồng và sẽ không được phép thực hiện.
Ngoài ra, khi người vợ đại diện thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn nên cần phải có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Người giám sát việc giám hộ là người được những người thân thích của chồng bạn cử ra, hoặc chọn cá nhân, pháp nhân khác (theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Dân sự 2015). Người giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của chồng bạn phải đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của chồng bạn. Trường hợp không có người thân thích của chồng bạn, hoặc những người thân thích không chọn được người giám sát việc giám hộ, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã cử cá nhân hoặc pháp nhân giám sát.
Công ty Luật Minh Phi



