Theo quy định tại Khoản 1 điều 296 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)
Điều 7 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bởi khoản 3 điều 1 Thông tư 12/2024/TT-NHNN quy định về điều kiện vay vốn:
– Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
– Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp.
– Có phương án sử dụng vốn khả thi. Điều kiện này không bắt buộc đối với khoản cho vay có mức giá trị nhỏ.
– Có khả năng tài chính để trả nợ.
Như vậy, nếu người vay đang vay thế chấp tài sản và bảo đảm khoản vay đó bằng sổ đỏ (quyền sử dụng đất) tại ngân hàng. Đối chiếu quy định pháp luật với trường hợp đã nêu thì người vay hoàn toàn có thể đứng tên vay thêm vốn tại ngân hàng này bằng sổ đỏ đã bảo đảm khi đáp ứng các điều kiện sau:
– Giá trị của quyền sử dụng đất đang thế chấp tại thời điểm vay lớn hơn tổng giá trị các khoản vay vốn có bảo đảm;
– Pháp nhân và cá nhân đều vay vốn được nhưng phải đáp ứng các yêu cầu pháp luật về năng lực pháp luật dân sự và độ tuổi (độ tuổi của cá nhân vay vốn phải từ 15 tuổi trở lên và không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự), có lịch sử sử dụng vốn vay tốt;
– Có nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp như vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, góp vốn kinh doanh…
– Có phương án sử dụng vốn tốt, khả thi, hiệu quả (không bắt buộc đối với khoản cho vay có giá trị nhỏ);
– Có khả năng tài chính, thu nhập đảm bảo để trả các khoản vay;
– Dư nợ các khoản vay trước đây thấp không phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu tại thời điểm vay là điều kiện ưu tiên để được vay thêm vốn.
Lưu ý: Trường hợp người vay muốn vay thế chấp quyền sử dụng đất này ở một ngân hàng khác thì phải được sự đồng ý của ngân hàng đang nhận bảo đảm và phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản (khoản 5 điều 321 và khoản 2 điều 296 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Công ty Luật Minh Phi



