Việc nhờ người thân, bạn bè đứng tên sổ đỏ để thuận tiện trong các giao dịch thường được nhiều người lựa chọn. Khi tình cảm hai bên không có vấn đề gì, chuyện nhờ vả này cũng rất bình thường. Tuy nhiên, nhờ người khác đứng tên sổ đỏ tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng.

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)

Theo quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai 2024, thì việc đứng tên sổ đỏ là sự ghi nhận của Nhà nước về quyền của người sử dụng đất. Theo đó, người được nhờ đứng tên trên sổ đỏ được Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất và được hưởng đầy đủ các quyền lợi liên quan đến quyền sử dụng đất. Điều này đồng nghĩa với việc, mặc dù không phải là chủ sở hữu thực sự, nhưng người đứng tên hộ có thể thực hiện mọi hành vi pháp lý đối với bất động sản đó.

Như vậy, việc nhờ người khác đứng tên sổ đỏ đồng nghĩa với việc trao toàn quyền liên quan đến bất động sản đó. Về mặt pháp lý, người được nhờ đứng tên trên Giấy chứng nhận được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất trong khi thực tế họ không phải là chủ của đất.

Khi có tranh chấp đất đai xảy ra, các bên bắt buộc phải hòa giải. Căn cứ khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 và khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, khi xảy ra tranh chấp đất đai (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất) mà các bên không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND nơi có đất để hòa giải. Vì vậy, trước tiên cần phải thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND trước. Nếu hòa giải không thành, sẽ gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân nơi có bất động sản để được giải quyết.

Trước tiên, cần tiến hành thỏa thuận người đứng tên hộ về việc chuyển quyền sử dụng đất (sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) sang tên.

Nếu người đứng tên hộ đồng ý, hai bên có thể chuyển quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng tặng cho có công chứng, chứng thực và thực hiện thủ tục sang tên.

Trong trường hợp không thể thỏa thuận việc chuyển quyền sử dụng đất, có thể khởi kiện lên tòa án để được giải quyết. Khi đó, cần phải chứng minh được mình là chủ sở hữu nhà đất thật sự. Cần cung cấp các giấy tờ, giao dịch chứng minh về thỏa thuận nhờ người đứng tên sổ đỏ và phải có người làm chứng. Nếu hai bên không có thỏa thuận bằng văn bản thì phải có các chứng cứ khác để chứng minh. Tòa sẽ căn cứ vào kết quả xác minh nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất, chứng cứ, tài liệu các bên đưa ra để quyết định ai là chủ nhân thực sự của bất động sản.

Công ty Luật Minh Phi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *