Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, vàng trang sức, mỹ nghệ là các sản phẩm vàng có hàm lượng từ 8 Kara (tương đương 33,33%) trở lên, đã qua gia công, chế tác để phục vụ nhu cầu trang sức, trang trí mỹ thuật. Như vậy, vàng nhẫn 9999 thuộc nhóm vàng trang sức, mỹ nghệ.

Theo Điều 8 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

– Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

– Có địa điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ.

Theo điểm a khoản 3 Điều 5 điểm d khoản 5 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 09/02/2026) phạt tiền từ 140 triệu đồng đến 180 triệu đồng (nếu tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 280 triệu đồng đến 360 triệu đồng) nếu kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ mà không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.

Trong trường hợp cá nhân mua bán vàng nhẫn 9999 với nhau chỉ nhằm phục vụ nhu cầu dân sự, không nhằm mục đích kinh doanh và không diễn ra tại các cơ sở kinh doanh vàng trái phép thì sẽ không bị xử phạt hành chính.

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)

Theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP, Nhà nước quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng. Các quy định xử phạt hành chính chủ yếu hướng tới các hành vi mua bán vàng trái phép trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là tại các tổ chức, doanh nghiệp không có giấy phép.

Trong khi đó, hoạt động kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một hoặc nhiều công đoạn, từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, nhằm mục đích sinh lợi. Giao dịch dân sự cá nhân là quan hệ tài sản phát sinh giữa các cá nhân với nhau, mang tính đơn lẻ, không mang tính nghề nghiệp và không nhằm mục đích sinh lời thường xuyên.

Việc người dân mua vàng từ bạn bè, người thân để nhằm phục vụ nhu cầu dân sự thì không phải là hoạt động kinh doanh.

Trong trường hợp này, cả người mua và người bán đều không bị xử phạt, bởi các lý do sau:

+ Không thuộc đối tượng điều chỉnh của hoạt động kinh doanh vàng: Pháp luật hiện hành chỉ xử phạt hành vi mua bán vàng trong khuôn khổ hoạt động kinh doanh trái phép.

Đối với vàng nhẫn 9999 (thuộc nhóm vàng trang sức, mỹ nghệ), nếu chỉ là việc chuyển nhượng tài sản cá nhân để giải quyết nghĩa vụ nợ, không phải mua bán tại các cửa hàng không có giấy phép, thì không thuộc diện bị xử phạt.

+ Quyền định đoạt tài sản cá nhân: Theo Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản hợp pháp của mình. 

+ Những lưu ý quan trọng để tránh rủi ro pháp lý

Mặc dù không bị xử phạt hành chính, vẫn khuyến nghị người mua nên lưu ý một số điểm để đảm bảo an toàn pháp lý như sau:

+ Xác nhận rõ giao dịch: Nên lập biên bản viết tay hoặc hợp đồng mua bán/chuyển nhượng vàng giữa các cá nhân, ghi rõ số lượng, chủng loại vàng, mục đích giao dịch là để trả nợ,…. và cam kết vàng có nguồn gốc hợp pháp.

+ Lưu trữ chứng từ về nguồn gốc (nếu có): Nếu người bán còn giữ hóa đơn mua vàng trước đây, nên photo hoặc đính kèm để chứng minh nguồn gốc rõ ràng, tránh rủi ro liên quan đến vàng không rõ xuất xứ.

+ Kiểm định chất lượng vàng: Do giao dịch cá nhân không có hóa đơn giá trị gia tăng hay thiết bị đo chuyên dụng, hai bên nên cùng nhau đến các tiệm vàng uy tín để kiểm tra tuổi vàng trước khi thanh toán.

Tóm lại, trong trường hợp cá nhân mua bán vàng nhẫn 9999 với nhau chỉ nhằm phục vụ nhu cầu dân sự, không nhằm mục đích kinh doanh và không diễn ra tại các cơ sở kinh doanh vàng trái phép thì sẽ không bị xử phạt hành chính.

Công ty Luật Minh Phi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *