Khi không có khả năng trả nợ, người vay sẽ đối diện với những hậu quả sau:
Khi vay ngân hàng:
Lịch sử tín dụng sẽ bị ghi lại nợ xấu, nếu thuộc nhóm nợ xấu 3, 4, 5 thì sẽ bị CIC ghi lại lịch sử nợ xấu và gặp khó khăn khi muốn vây ngân hàng ở các lần sau đó.
Phải chịu thêm một số khoản lãi trả chậm hoặc phí phạt do không trả nợ đúng hạn.
Có thể bị khởi kiện ra Toà để đòi nợ. Nếu có dấu hiệu vi phạm hình sự thì còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Khi vay cá nhân với nhau:
Mất uy tín và có thể sau này không thể tiếp tục vay được nữa.
Bên cạnh đó, nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”.
Theo quy định này, khi đến hạn, người vay phải trả đủ tiền cho bên cho vay. Đặc biệt, khi đến hạn mà không trả hoặc trả nhưng không đầy đủ thì khoản 4 khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
– Vay không có lãi:
Người vay phải trả lãi tương ứng với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả trừ thoả thuận khác.
– Vay có lãi:
Trả lãi bằng 150% lãi suất cho vay theo hợp đồng tính trên nợ gốc quá hạn chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Nếu các bên có thoả thuận khác về việc trả lãi khi quá hạn không trả hoặc không trả đủ khi đến hạn thì thực hiện theo thoả thuận của các bên.
Ngoài việc trả lãi, nếu trong hợp đồng vay tiền có các quy định khác liên quan đến việc không có khả năng trả nợ khi đến hạn thì các bên thực hiện theo thoả thuận đó.
Có thể kể đến một số thoả thuận thường áp dụng như sau:
– Nếu có tài sản đảm bảo:
Bên cho vay có quyền xử lý tài sản thế chấp, tài sản bảo đảm… để trừ nợ. Thường việc vay có tài sản đảm bảo sẽ áp dụng trong trường hợp vay thế chấp tại ngân hàng. Đến hạn trở nợ, nếu bên vay không trả được thì ngân hàng sẽ tiến hành các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
– Nếu không có tài sản đảm bảo:
Hai bên thoả thuận về việc trả nợ hoặc gia hạn thời hạn trả nợ… Nếu không thoả thuận được thì bên cho vay có thể khởi kiện ra Toà để đòi nợ.
Bỏ trốn không trả nợ do bị vỡ nợ xử lý thế nào?
Như phân tích ở trên, ngoài có thể bị kiện ra Toà đòi nợ, nếu có dấu hiệu lừa đảo, người cho vay có thể tố cáo hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người vay”. Khi bỏ trốn hoặc sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền thì sẽ phải chịu trách nhiệm:
– Bị xử phạt hành chính:
Phạt từ 02 – 03 triệu đồng theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2020/NĐ-CP.
– Chịu trách nhiệm hình sự:
Về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù.
📍 Trên đây là bài viết hướng dẫn của Công ty Luật Minh Phi về vấn đề này. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Zalo: 0976.337.633 để được giải đáp. Trân trọng!
Công ty Luật Minh Phi



