Căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Nghị định 123/2015/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng vẫn có thể được hưởng thừa kế tài sản của nhau nếu thuộc một trong hai trường hợp sau đây:

+ Theo khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

+ Pháp luật chỉ thừa nhận quan hệ vợ chồng nếu nam và nữ đăng ký kết hôn theo đúng quy định; trường hợp sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì không xác lập quan hệ vợ chồng, trừ trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 thì được công nhận là đã kết hôn (theo điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 của Quốc hội).

Các thời điểm sống chung như vợ chồng và không đăng ký kết hôn khác đều không được pháp luật công nhận có quan hệ hôn nhân để chia thừa kế;

Theo đó, khi một người mất, người còn lại cũng sẽ được hưởng di sản thừa kế theo hàng, diện thừa kế quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015;

Việc công nhận quan hệ hôn nhân và phân chia di sản thừa kế lúc này phải được thực hiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền/hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng tại tòa và tự thực hiện chia thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật theo quy định;

Bên có yêu cầu chia di sản thừa kế cũng phải chuẩn bị giấy tờ, tài liệu để chứng minh có quan hệ chung sống hôn nhân như vợ chồng để được Tòa án công nhận.

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)

Căn cứ xác định chung sống như vợ chồng để chia thừa kế là gì?

Căn cứ để Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của nam nữ sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn để làm căn cứ chia thừa kế được thực hiện theo điểm d, khoản 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, gồm một trong những trường hợp sau:

Trường hợp 1: Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau

– Lễ cưới được tổ chức theo tập tục, tập quán của từng vùng miền;

– Nam nữ bắt đầu chung sống với nhau sau khi đã tổ chức lễ cưới;

Trường hợp 2: Việc nam nữ chung sống với nhau được gia đình chấp nhận

– Có thể gia đình 2 bên hoặc gia đình một bên chấp nhận việc nam nữ chung sống với nhau;

Trường hợp 3: Nam nữ chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến

– Thường có thể thấy các tổ chức Đảng, Đoàn, tổ chức nơi công tác, học tập… chứng kiến sự kiện;

– Người chứng kiến cũng có thể là linh mục, cha xứ, người thân, lãnh đạo…;

Trường hợp 4: Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng nhau xây dựng gia đình

– Biểu hiện bằng việc nam nữ cùng dọn về sống chung với nhau, cùng nhau lao động, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong công việc, cuộc sống;

– Cùng nhau gây dựng cuộc sống gia đình như chăm sóc bố mẹ hai bên, sinh con, nuôi dạy con cái…;

Khi thấy thuộc một trong những trường hợp này và thời điểm bắt đầu chung sống là từ trước 03/01/1987, nam nữ có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân công nhận quan hệ hôn nhân và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật.

Nếu chia thừa kế theo di chúc thì có thể chỉ cần Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân/quan hệ vợ chồng.

Như vậy, chung sống như vợ chồng có được chia thừa kế không, cần xác định rõ thời điểm họ bắt đầu chung sống mà không đăng ký kết hôn và hình thức chia tài sản thừa kế.

Trường hợp chia thừa kế theo pháp luật thì muốn nhận được thừa kế của người còn lại, nam nữ phải được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân và được Tòa án giải quyết yêu cầu chia thừa kế.

Công ty Luật Minh Phi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *