1/ Lập vi bằng di chúc là gì?
Trước tiên, đối với thuật ngữ “Vi bằng”, khoản 3, Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đưa ra định nghĩa như sau:
“3. Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này.”
Đối với thuật ngữ “Di chúc”, Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 đưa ra định nghĩa như sau:
“Điều 624. Di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”
Theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc và không bị cưỡng ép, lừa dối, đe dọa; nội dung của di chúc không vi phạm các điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội; hình thức của di chúc không trái quy định của luật.

(Ảnh minh họa: Nguồn Internet)
Trong đó:
– Nội dung của di chúc bao gồm các thông tin về: thời gian lập di chúc (ngày, tháng, năm); họ và tên, nơi cư trú của người lập di chúc; họ và tên của người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản. Đây là những thông tin bắt buộc phải có, ngoài ra di chúc còn có thể có các nội dung khác.
– Hình thức của di chúc gồm: di chúc bằng văn bản (có người làm chứng, không có người làm chứng, công chứng, chứng thực) và di chúc miệng.
2/ Giá trị của lập vi bằng:
Căn cứ Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định liên quan đến giá trị pháp lý của vi bằng như sau:
– Thừa phát lại được lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi toàn quốc, trừ các trường hợp quy định tại Điều 37 của Nghị định này.
– Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác.
– Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
3/ Trường hợp nào không được lập vi bằng:
Tại khoản 4 Điều 37 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định các trường hợp không được lập vi bằng bao gồm:
– Các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 4 của Nghị định này.
– Vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng bao gồm: Xâm phạm mục tiêu về an ninh, quốc phòng; làm lộ bí mật nhà nước, phát tán tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước; vi phạm quy định ra, vào, đi lai trong khu vực câm, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn của công trình an ninh, quốc phòng và khu quân sự; vi phạm quy định về bảo vệ bí mật, bảo vệ công trình an ninh, quốc phòng và khu quân sự.
– Vi phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Dân sự; trái đạo đức xã hội.
– Xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao đúng với bản chính.
Như vậy, có thể thấy vấn đề tiên quyết của việc lập di chúc là ý chí của người lập di chúc, Thừa phát lại sẽ là bên thứ ba ghi nhận lại sự kiện, hành vi lập di chúc của người lập di chúc, lập vi bằng di chúc là việc Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến và lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi lập di chúc của người lập di chúc theo quy định của pháp luật. Việc lập di chúc cũng không thuộc các trường hợp không được lập vi bằng, do đó, việc lập vi bằng di chúc là hoàn toàn hợp pháp.
Công ty Luật Minh Phi



