Lao động tự do là gì?
Hiện nay, pháp luật chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về lao động tự do. Tuy nhiên, trong thực tế, những người làm việc mà không bị ràng buộc bởi hợp đồng lao động và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thường được coi là lao động tự do (Các công việc như là buôn bán hàng rong, bán vé số dạo, làm cộng tác viên, Thu gom rác, phế liệu, Giúp việc theo giờ, Bốc vác, vận chuyển thuê, quay phim, chụp ảnh tự do, bán hàng online, livestream bán hàng, sáng tạo nội dung TikTok, YouTube…).

![]()
![]()
(Ảnh minh họa: Nguồn internet)
Lao động tự do muốn được hưởng các quyền lợi về Bảo hiểm xã hội thì phải tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trong thời gian thi hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, số người tham gia Bảo hiểm xã hộitự nguyện còn thấp, trong đó có nguyên nhân là chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thiếu hấp dẫn, người lao động chưa được hưởng các quyền lợi ngắn hạn, trong khi mức hỗ trợ người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện còn rất thấp.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) đã bổ sung thêm nhiều chính sách mới về Bảo hiểm xã hội tự nguyện (đặc biệt là về trợ cấp thai sản và chế độ hưu trí) nhằm thúc đẩy lao động tự do tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.
* Sau đây là các chính sách nổi bật:
1. Bổ sung chính sách trợ cấp thai sản
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025), “Điều 94, Điều 95, Điều 96, Điều 97” đã bổ sung trợ cấp thai sản vào chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm tăng tính hấp dẫn của chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện, thu hút người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện (đặc biệt là nhóm người trẻ tuổi) nhằm tự bảo đảm an sinh xã hội cho chính bản thân họ.
Mức trợ cấp thai sản là 2 triệu đồng cho mỗi con được sinh ra và mỗi thai từ 22 tuần tuổi trở lên chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ. Đối với lao động nữ là người dân tộc thiểu số hoặc lao động nữ là người dân tộc Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo khi sinh con còn được hưởng chính sách hỗ trợ khác theo quy định của Chính phủ.
Chế độ trợ cấp thai sản đối với Bảo hiểm xã hội tự nguyện do ngân sách nhà nước bảo đảm, người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ không phải đóng thêm tiền nên sẽ thu hút lao động tự do tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện (vì trách nhiệm không tăng nhưng được tăng thêm quyền lợi).
Đồng thời, Quốc hội giao Chính phủ quyết định điều chỉnh mức trợ cấp thai sản phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ nhằm bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện (như là khi lạm phát tăng thì sẽ điều chỉnh tăng mức trợ cấp thai sản).
2. Điều kiện để được hưởng lương hưu
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) “Điều 98” đã rút ngắn thời gian đóng BHXH xuống còn từ đủ 15 năm (theo Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là từ đủ 20 năm trở lên). Với quy định mới này sẽ tạo cơ hội cho người tham gia Bảo hiểm xã hội muộn hoặc quá trình tham gia BHXH không liên tục có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội ngắn sẽ được hưởng lương hưu.
3. Tăng mức trợ cấp khi đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm quy định
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) “Điều 100” đã bổ sung quy định trường hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 98 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 mà tiếp tục đóng Bảo hiểm xã hội thì mức trợ cấp bằng 2 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 104 Luật BHXH năm 2024 cho mỗi năm đóng cao hơn số năm quy định kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu.
Với việc bổ sung quy định mới này sẽ bảo đảm được quyền lợi cho người lao động trong trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu nhưng vẫn tham gia Bảo hiểm xã hội đến thời điểm nghỉ hưu (khuyến khích người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu cho đến thời điểm nghỉ hưu).
Đồng thời, với quy định người lao động có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% (lao động nam là cao hơn 35 năm, lao động nữ là cao hơn 30 năm) thì ngoài việc nhận lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần sẽ bảo đảm được quyền lợi cho người lao động có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội nhiều, phù hợp với nguyên tắc tham gia Bảo hiểm xã hội (đóng nhiều thì được hưởng nhiều).
4. Chính sách mới về hưởng Bảo hiểm xã hội một lần
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) “Điều 102” về hưởng Bảo hiểm xã hội một lần có những điểm mới nổi bật sau đây:
+ Thứ nhất, người lao động bắt đầu tham gia Bảo hiểm xã hội từ ngày 01/07/2025 trở đi sẽ không được quyền nhận Bảo hiểm xã hội một lần. Chỉ được nhận Bảo hiểm xã hội một lần trong các trường hợp đặc biệt sau đây:
– Đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng chưa đủ 15 năm đóng Bảo hiểm xã hội mà không tiếp tục tham gia Bảo hiểm xã hội.
– Người lao động ra nước ngoài để định cư.
– Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.
– Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.
Với quy định mới này sẽ từng bước khắc phục được tình trạng hưởng BHXH một lần như thời gian qua. Từ đó, giúp người lao động được thụ hưởng tối đa các quyền lợi dài hạn khi họ đến tuổi nghỉ hưu, góp phần ổn định cuộc sống của họ khi về già.
Tuy nhiên, đối với người lao động có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội trước ngày 01/07/2025, sau 12 tháng không tiếp tục đóng Bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội thì được quyền nhận Bảo hiểm xã hội một lần.
+ Thứ hai, đối với người lao động đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 15 năm đóng Bảo hiểm xã hội nếu không muốn hưởng Bảo hiểm xã hội một lần thì có thể lựa chọn hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
Với quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động lựa chọn việc hưởng trợ cấp hàng tháng để họ có khoản thu nhập định kỳ góp phần ổn định cuộc sống.
+ Thứ ba, đối với người lao động ra nước ngoài để định cư; người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS; người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng nếu vừa đủ điều kiện hưởng lương hưu vừa đủ điều kiện hưởng Bảo hiểm xã hội một lần thì người lao động được lựa chọn hưởng lương hưu hàng tháng hoặc hưởng Bảo hiểm xã hội một lần.
Với quy định mới này sẽ tạo điều kiện cho người lao động xem xét trường hợp của mình nên nhận Bảo hiểm xã hộimột lần hay hưởng lương hưu hàng tháng là tốt hơn để ra quyết định phù hợp.
Công ty Luật Minh Phi



